.png)
Giữa không gian thơ mộng của vùng đất Hà Tiên, bên dòng Đông Hồ và dưới chân núi Tô Châu, có một địa chỉ đặc biệt - nơi lưu giữ ký ức văn chương của hai thi nhân nổi tiếng: Đông Hồ và Mộng Tuyết.
Di tích “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường”, tọa lạc tại số 46, 48 đường Đông Hồ, phường Hà Tiên, tỉnh An Giang, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa theo quyết định số 148/QĐ-UBND, ngày 01/02/2023 của UBND tỉnh Kiên Giang. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm hai nhà thơ tiêu biểu của văn học Nam Bộ thế kỷ XX, mà còn là điểm đến giàu chiều sâu văn hóa dành cho du khách khi ghé thăm Hà Tiên.
Thi sĩ Đông Hồ - Người gìn giữ hồn chữ Việt

Thi sĩ Đông Hồ (tên thật là Lâm Kỳ Phác, còn gọi là Lâm Tấn Phác, tự Trác Chi, bút hiệu Đông Hồ), sinh ngày 10/3/1906 (tức ngày 26/02 năm Bính Ngọ), tại làng Mỹ Đức - tỉnh Hà Tiên. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo tiêu biểu của văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
Từ năm 1923 - 1933, ông viết báo Nam Phong xuất bản ở Hà Nội, với nhiều thể loại: Biên soạn, khảo cứu, ký sự, tùy bút cho báo Nam Phong của Phạm Quỳnh, nhân mười năm biên tập tạp chí Nam Phong mà các nhà văn Học Sử Việt Nam xếp vào văn phái Nhóm Nam Phong. Trong các bài đăng báo Nam Phong nổi tiếng hai bài: "Linh Phượng" tức là "Trác Chi Lệ Ký Tập” và một bài cổ văn là bài "Phú Đông Hồ" đều viết trong năm 1928.
Không chỉ là nhà thơ, ông còn là người có công lớn trong việc cổ vũ chữ Quốc ngữ. Năm 1926 đến năm 1934, ông sáng lập Trí Đức học xá - trường tư thục dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt đầu tiên tại Hà Tiên. Với quan niệm “khai trí - tiến đức”, ông xem giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ là con đường gìn giữ bản sắc dân tộc.
Trong mấy năm hoạt động, biểu hiện của "Trí Đức học xá", in trên các thư giấy là một ngòi lông thỏ và một ngòi lông chim, tượng trưng cho bút lông và bút sắt. Tiêu đề có mấy câu thơ:
“Ríu rít đàn chim kêu
Cha truyền con nối theo
Huống là tiếng mẹ đẻ
Ta có lẽ không yêu.”
Năm 1935, ông chủ trương làm Tuần báo "Sống", tự lực xuất bản ở Sài Gòn, và viết bài cho các báo: Trung Bắc Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Mai, Văn, Bách Khoa, Văn Học tạp chí, Khai Trí Tiền Đức Tập San, Tri Tân...
Năm 1945, ông dời lên Sài Gòn, lấy bút hiệu là: "Thủy Cổ Nguyệt", "Đại Ẩn Am”, và “Nhị Liễu Tiên Sinh".
Năm 1953, ông làm giám đốc Tập San Nhân Loại, xuất bản tại Sài Gòn, là cơ sở của nhà xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiểm Yiểm Thư Trang được sáng lập năm 1950.
Sau Hiệp định Geneve 1954, nhà sách Yiểm Yiểm Thư Trang ông cho để làm văn phòng Ban Tuyên Huấn Xứ Ủy làm việc một thời gian. Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc tại Sài Gòn. Năm 1964, Đông Hồ được mời làm giảng sư Trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, phụ trách chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm.

Đông Hồ là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo, một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Ông sáng tác bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán, có phong cách trang nhã, trong sáng, đậm chất cổ điển phương Đông, nhưng diễn đạt bằng tinh thần hiện đại. Thơ văn của ông gắn bó sâu sắc với thiên nhiên Hà Tiên, đạo lý truyền thống, tinh thần nhân văn, thanh cao. Ông là người có công lớn trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống Tao Đàn Chiêu Anh Các, góp phần quan trọng vào đời sống văn hóa - học thuật Hà Tiên thế kỷ XX. Ông đã thành lập “Trí Đức học xá” là trường tư thục đầu tiên của vùng Tây Nam Bộ dạy chữ quốc ngữ tại Hà Tiên. Trường là nơi giao lưu văn học, hội tụ nhiều văn nhân, trí thức Nam Bộ. Đông Hồ được nhiều học giả đánh giá là cầu nối giữa truyền thống văn học Chiêu Anh Các thế kỷ XVIII với văn học hiện đại, góp phần đưa hình ảnh Hà Tiên đến với cả nước qua thi ca.
Ngày 25/03/1969 (tức ngày 08/02 năm Kỷ Dậu), Đông Hồ đột ngột từ trần trong lúc đang bình giảng bài thơ "Vịnh Hai Bà” của nữ sĩ Ngân Giang nhân ngày lễ Hai Bà Trưng. Sau đó được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (Sài Gòn), đến năm 1983 ông được cải táng đưa về quê yên nghỉ tại núi Tô Châu, Hà Tiên.
Nữ sĩ Mộng Tuyết – “Vì sao” thi đàn Nam Bộ

Nữ sĩ Mộng Tuyết (tên thật là Thái Thị Sửu), sinh ngày 09-01-1914, ở làng Mỹ Đức - Hà Tiên, con của Ông Thái Đức Huy và Bà Phan Thị Tâm. Bà còn có bút danh: Hà Tiên Cô; Thất Tiêu Muội; Nàng Út; Bân Bân nữ sĩ; Bách Thảo Sương. Bà bắt đầu sáng tác từ năm 12 tuổi tại Trí Đức học xá. Các sáng tác trong thời kỳ này của Mộng Tuyết được tập hợp với nhan đề "Bông hoa đua nở" đăng trong Tạp chí Nam Phong năm 1930.
Năm 1935, tuần báo "SỐNG" được thành lập bởi nhóm nhà văn của Hà Tiên gồm: Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà, Trúc Phong, Lư Khê, Trọng Toàn, Quang Đẩu, Bạch Như. Mộng Tuyết được phân công giữ mục Truyện ngắn trên báo SỐNG.
Năm 1943, Mộng Tuyết cùng với Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương xuất bản tập thơ "Hương Xuân" (NXB Nguyễn Du - Hà Nội). Đây là tuyến tập thơ nữ đầu tiên ở Việt Nam,
Trước 1945, thơ - tùy bút - truyện ngắn đăng báo: Tiểu thuyết thứ năm; Hà Nội báo; Con Ong; Đông Tây; Trung Bắc chủ nhật Trị Tân; Gió mùa; Ánh Sáng; Nhân loại. Ngoài ra Mộng Tuyết còn dịch thơ Pháp và viết khảo cứu văn học. Những năm 50 thể kỷ XX, bà cùng chồng là thi sĩ Đông Hồ lên Sài Gòn mở nhà sách Yiểm Yiểm Thư Trang; Nhà xuất bảo Bốn Phương; Nhà in Thư Lâm Ấn Thư Quán.
Sau 1954 Mộng Tuyết viết tùy bút, năm 1960, tác phẩm Nàng Ái Cơ trong chậu úp (tiểu thuyết lịch sử) hóa nhân vật Bà Di Tự, thứ cơ của Mạc Lịnh Công (Mạc Thiên Tích). Tác phẩm của bà góp phần làm đẹp thêm huyền thoại văn hóa Hà Tiên, đặc biệt gắn với Phù Dung Cổ Tự và vùng đất họ Mạc.

Mộng Tuyết - Đông Hồ đã đóng góp một phần công sức không nhỏ vào việc gìn giữ và truyền bá văn học của Tao Đàn Chiêu Anh Các. Mộng Tuyết là nhà thơ nữ duy nhất của Nam Bộ vinh dự có mặt trong thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân.
Năm 1945, Mộng Tuyết sáng tác Mười khúc đoạn trường. Mộng Tuyết - Đông Hồ đem bán bài thơ ấy để lấy tiền cứu đói. Tấm lòng của Mộng Tuyết - Đông Hồ đối với đồng bào miền Bắc thật đáng trân trọng.
Trước năm 1975, Mộng Tuyết là niên trưởng Thi đàn Quỳnh Dao, Mộng Tuyết được cử đi dự Hội Thơ Quốc tế kỳ II tại Đài Bắc - Đài Loan vào năm 1973 - Hội nghị Thi Ca, kỳ thứ XI tại Knokke-Heist - Vương quốc Bỉ năm 1974.
Lúc tuổi trên 80, Mộng Tuyết xuất bản "Hồi ký Núi Mộng Gương Hồ” gồm 3 tập ghi lại cuộc đời sự nghiệp - hoạt động văn học - văn hóa của Mộng Tuyết - Đông Hồ cùng nhiều văn nghệ sĩ thân thiết khác. Năm 1999 bà đã được ghi nhận kỷ lục là nhà văn lớn tuổi nhất vẫn còn viết ở Việt Nam.
Năm 1995 nữ sĩ Mộng Tuyết về Hà Tiên xây dựng “Thi nhân kỷ niệm đường” gần gũi Trí Đức học xá ngày xưa. Bà sống tại đây đến khi qua đời ngày 01/07/2007, thọ 93 tuổi. Hội Nhà Văn Việt Nam từng khẳng định “Nữ sĩ Mộng Tuyết là "một nhà thơ lớn - một tấm lòng về nhân cách”, "một vì sao tỏa sáng gần suối một thể kỷ trên vùng đất cực Nam Tổ Quốc".
Nhà lưu niệm Đông Hồ

Di tích còn có tên là Nhà lưu niệm “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” được nữ sĩ Mộng Tuyết cho xây dựng năm 1994, khánh thành ngày 12/6/1995, trên khu đất gia đình Đông Hồ. Nhà lưu niệm được xây trên khuôn viên Trí Đức học xá xưa, với diện tích khoảng 350m2 gồm nhà và sân vườn. Mặt tiền Nhà lưu niệm được xây dựng theo lối kiến trúc phương tây với cột tròn, mái lợp tôn, nền lát gạch bông. Mặt quay về hướng Tây Bắc, nhìn ra sông Đông Hồ và núi Tô Châu. Bên trong trưng bày các hình ảnh, tác phẩm nổi tiếng của Thi sĩ Đông Hồ và Nữ sĩ Mộng Tuyết, ngoài ra còn là nơi ở ở và sinh hoạt của gia đình.

Với 02 gian phía trước là phòng trưng bày hình ảnh và các tác phẩm của nổi tiếng của Thi sĩ Đông Hồ và Nữ sĩ Mộng Tuyết. 02 gian sau được là nhà bếp được hoán cải thành phòng trưng bày và phòng đọc sách. Hiện nơi đây còn lưu giữ khoảng 1800 quyển sách, 440 bức tranh, ảnh và 930 tờ báo giá trị. Không gian được tổ chức như một thư viện mini, phục vụ nghiên cứu và đọc tại chỗ.
Ngày 28/4/2021, UBND thành phố Hà Tiên tiếp nhận Nhà lưu niệm Đông Hồ từ bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - cháu của nữ sĩ Mộng Tuyết trao tặng. Hiện nay Nhà lưu niêm Đông Hồ đã được tu sửa khang trang, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc và giá trị ban đầu.
Trí Đức học xá - Dấu ấn giáo dục khai sáng

Thành lập ngày 30/10/1926, Trí Đức học xá hoạt động đến 1934 do Đông Hồ thành lập và chủ quản. Trí Đức học xá trước năm 1945 có diện tích khoảng 1.200m2 là nhà bác của Đông Hồ, là ông Lâm Tấn Đức. Khu nhà gồm có sân vườn, nhà ngói 05 gian trong đó gian chính được dùng làm trường học, giảng dạy và 01 căn gác mái thường được gọi là Gác Nam Phong - nơi Đông Hồ làm việc, làm thơ, viết văn, viết sách, báo… Đến những năm 1944 - 1945, Trí Đức học xá bị tàn phá chỉ còn lại nền nhà. Địa điểm cũ của Trí Đức học xá nằm trong khuôn viên di tích Nhà lưu niệm Đông Hồ hiện tại.
Đông Hồ - một nhà giáo, nhà thơ, nhà văn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc phát triển văn hóa và chữ quốc ngữ ở Nam Bộ. Khi đó, hệ thống giáo dục do chính quyền thực dân Pháp quản lý chủ yếu dùng tiếng Pháp; Đông Hồ cho rằng việc học tiếng Việt - chữ quốc ngữ - mới thực sự gắn bó với văn hóa, bản sắc và tương lai dân tộc. Do đó, ông mở trường dạy toàn bằng tiếng Việt và chữ quốc ngữ. Trí Đức học xá được xem là ngôi trường tư thục dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở Hà Tiên. Mục tiêu của trường không chỉ là dạy chữ - mà là “khai trí, tiến đức”, hướng học sinh hiểu biết về văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước và tự hào tiếng mẹ đẻ. Mặc dù tồn tại chưa dài (khoảng 7-8 năm), Trí Đức học xá đã để lại ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào học và sáng tác bằng chữ Quốc ngữ ở Nam Bộ.
Trí Đức học xá lưu giữ kỷ niệm về trường, cũng như cuộc đời – sự nghiệp văn học - giáo dục của Đông Hồ. Nhà lưu niệm được xem là di tích văn hóa - biểu tượng cho phong trào giáo dục bằng quốc ngữ và ý thức bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Sau khi được xếp hạng di tích, Trí Đức học xá được phục dựng lại gần như ngôi nhà cũ. Có diện tích 210m2, với khu nhà bằng gỗ lim, tường bao che xây gạch đặc, mái lợp ngói âm dương, nền lót gạch đất nung. Khuôn viên mới, tái dựng lại cảnh quan của Trí Đức học xá xưa, phía trước trồng cây mai trắng - loài cây đặc thù của Hà Tiên; cây trúc biểu hiện cho bậc quân tử…

Bên trong Trí đức học xá, không gian tái hiện lại lớp học chữ quốc ngữ xưa do Đông Hồ giảng dạy, với bàn học bảng đen, các câu đối, châm ngôn của các nhà văn nổi tiếng.
Gian trong trưng bày những vật dụng hằng ngày của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết. Trưng bày hình ảnh những cảnh đẹp gắn liền với vùng đất Hà Tiên xưa, các bài thơ hay của Đông Hồ, đặc biệt nhất là 10 bài thơ Hà Tiên thập vịnh cảnh do Đông Hồ dịch từ bản chữ Nôm.
Giác Nam Phong được phục dựng lại, nhưng do không có tư liệu, nên chỉ phục dựng thành một phòng làm việc. Hiện phòng này dùng để trưng bày các hiện vật liên quan đến thi sĩ Đông Hồ, gồm các hiện vật như hình ảnh, bàn làm việc…
Điểm đến dành cho những tâm hồn yêu văn chương

Thi sĩ Đông Hồ chủ trương giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt, cổ vũ người Việt tin tưởng và tự hàp vào tiếng mẹ đẻ. Ông có những đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, chữ viết và tinh thần dân tộc. Thơ văn của Đông Hồ và Mộng Tuyết chan chứa tình yêu thiên nhiên Hà Tiên, khắc họa một vùng đất vừa trữ tình vừa giàu truyền thống văn hiến. Chính những trang thơ ấy đã góp phần đưa hình ảnh Hà Tiên đến với độc giả cả nước, trở thành miền đất mơ ước trong tâm thức nhiều thế hệ.
Ngày nay, Nhà lưu niệm Đông Hồ - Mộng Tuyết không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa, mà còn là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai yêu văn chương, yêu Hà Tiên và muốn tìm về cội nguồn văn hiến của vùng đất cực Tây Nam Tổ quốc.
Hãy dành thời gian ghé thăm để cảm nhận một Hà Tiên sâu lắng – nơi thơ và đời hòa quyện trong từng trang sách, nơi ký ức văn chương vẫn còn ngân vang giữa cảnh sắc non nước hữu tình.










